net_left Phương Thức Thanh Toán

Áp lực lạm phát sẽ tăng dần tới cuối năm

17 Tháng Chín 2022
Áp lực lạm phát sẽ tăng dần tới cuối năm Áp lực lạm phát sẽ tăng dần tới cuối năm
let atwWrapper,atwContainerWidth,atwSliderBox,atwTotalWidth; function initATWSlider() { atwWrapper = $('.relatedInstruments'); atwSliderBox = atwWrapper.find('.slider'); atwContainerWidth = atwWrapper.width(); atwTotalWidth = atwSliderBox.width(); if(window.domainId === '2' || window.domainId === '3'){ atwWrapper.find('.sliderRight').addClass('js-slider-prev'); atwWrapper.find('.sliderLeft').addClass('js-slider-next'); } else { atwWrapper.find('.sliderRight').addClass('js-slider-next'); atwWrapper.find('.sliderLeft').addClass('js-slider-prev'); } if(atwSliderBox.find('.instrumentBox').length > 6){ atwWrapper.find('.js-slider-next').fadeIn(600); } } function atwMoveRight() { atwWrapper.find('.js-slider-prev').fadeIn(150); $(".slider > :visible:first").hide(150) $(".slider > :visible:last").next().show(150); if(!$(".slider > :visible:last").next().find('.name')()){ atwWrapper.find('.js-slider-next').fadeOut(150); return; } } function atwMoveLeft() { atwWrapper.find('.js-slider-next').fadeIn(150); $(".slider > :visible:last").hide(150); $(".slider > :visible:first").prev().show(150); if(!$(".slider > :visible:first").prev().find('.name')()){ atwWrapper.find('.js-slider-prev').fadeOut(150); return; } } initATWSlider(); //update star icon on adding/removing instrument to/from specific watchlist atwWrapper.on('click', 'label.addRow', function() { let parent = $(this).parent(); let checkedPortfolio = false; parent.find('input[type=checkbox]').each(function () { if($(this).is(':checked')){ checkedPortfolio = true; } }); let closestStar = $(this).closest('.addToPortWrapper').find('.star'); if(checkedPortfolio){ closestStar.addClass('added'); }else{ closestStar.removeClass('added'); } }); //update star icon on creating new watchlist atwWrapper.find('.js-create-watchlist-portfolio').find('a.js-create').on('click',function () { let parent = $(this).parent(); let watchlistName = parent.find('input[type=text]').val(); if(!watchlistName){ return; } let star = $(this).closest('.addToPortWrapper').find('.star'); star.addClass('added'); }); //update star icon on adding new position atwWrapper.find('.js-create-holdings-portfolio').find('.js-submit').on('click',function () { let addPositionForm = $(this).closest('.addToPortfolioPop').find('.holdingsContent'); let amount = addPositionForm.find('.js-amount').val(); if(amount < 1){ return; } let star = $(this).closest('.addToPortWrapper').find('.star'); star.addClass('added'); }); window.atwPairTypes = {"954867":"futureCash","958398":"Equities"};

Vietstock - Áp lực lạm phát sẽ tăng dần tới cuối năm

Áp lực lạm phát với kinh tế Việt Nam sẽ tăng dần trong những tháng cuối năm 2022 và năm 2023 trước những rủi ro từ bất ổn địa – chính trị toàn cầu và sự thiếu hụt, gián đoạn nguồn cung khiến chi phí sản xuất, vận tải toàn cầu gia tăng.

Tại tọa đàm “Áp lực lạm phát năm 2022 và đề xuất chính sách” sáng 16-9, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), cho biết lạm phát tại nhiều nền kinh tế đã tăng rất mạnh trong 8 tháng đầu năm 2022, sau hai năm liên tục 2020-2021 áp dụng các chính sách nới lỏng tài khóa – tiền tệ, kéo theo nhu cầu tiêu dùng, đầu tư tăng, trong khi nguồn cung ứng bị đứt gãy chưa hoàn toàn hồi phục.

Với Việt Nam, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 8 tháng năm 2022 tăng 2,58% so với cùng giai đoạn năm trước, cao hơn mức tăng 1,67% của bình quân 8 tháng năm 2021, nhưng thấp hơn mức tăng của bình quân 8 tháng giai đoạn 2018-2020.

Diễn biến này, theo ông Việt, cho thấy Việt Nam vẫn đang kiểm soát khá tốt tình hình và lạm phát vẫn chưa phải là vấn đề quá lớn. Nhưng áp lực lạm phát đã được cảm nhận rõ hơn và sẽ tiếp tục kéo dài trong những tháng cuối năm.

Giá xăng dầu chỉ là một trong nhiều yếu tố gây áp lực lạm phát. Ảnh: N.K

Chuyên gia này dự báo xung đột Nga – Ukraine đã dẫn tới đứt gãy chuỗi cung ứng, lạm phát giá nhập khẩu năng lượng vẫn là rủi ro lớn nhất với việc kiểm soát lạm phát và giá cả hàng hóa của Việt Nam. Ngoài ra, chính sách “Zero Covid” và khủng hoảng thị trường bất động sản ngày càng sâu sắc tại Trung Quốc sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề lạm phát toàn cầu.

“Áp lực lạm phát dự báo có thể giảm bớt nếu giá dầu và giá lương thực thế giới giảm, tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu được cải thiện”, ông Việt nói và ước lạm phát trong nước năm 2022 sẽ trong khoảng 3,5-3,8%.

Cả giai đoạn 2022-2023, chuyên gia này cho biết triển vọng kinh tế toàn cầu có xu hướng xấu đi. Cụ thể, tăng trưởng GDP thực tế toàn cầu dự kiến sẽ trong khoảng 1,7-3,7% trong năm 2022 và khoảng 1,8-4,0% vào năm 2023. Lạm phát toàn cầu dự kiến khoảng 7,2-9,4% ở năm 2022 và khoảng 4,0-6,5% ở năm 2023.

Với Việt Nam, Tiến sĩ Cấn Văn Lực, Kinh tế trưởng của BIDV (HM:BID), cho rằng lạm phát vẫn chưa đạt đỉnh do lạm phát tại các nước vẫn ở mức cao và có một độ trễ nhất định về thời gian trước khi yếu tố này ảnh hưởng tới kinh tế Việt Nam.

Ngoài ra, việc tính toán chỉ số của Việt Nam cũng có sự khác biệt so với nhiều nước.

Chính phủ cũng thực hiện bình ổn giá các mặt hàng gồm xăng, dầu, lương thực, thực phẩm, nhà ở, là những nhóm mặt hàng đóng góp 80-90% vào chỉ số lạm phát ở Việt Nam.

Ông Lực dự báo kinh tế Việt Nam sẽ chịu áp lực lạm phát trong những tháng cuối năm 2022. Bước sang năm 2023, nền kinh tế sẽ đối mặt với nhiều thách thức hơn do tăng trưởng kinh tế thế giới chậm lại, tác động tới hoạt động xuất khẩu và đầu tư, lạm phát có thể tăng cao hơn, dự kiến nằm trong khoảng 4-4,5%.

Tương tự, một báo cáo của VEPR cũng nhận định một số yếu tố gây khó khăn cho cơ quan quản lý trong việc kiềm chế lạm phát, gồm bất ổn địa – chính trị toàn cầu, việc thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt, tăng lãi suất của một số quốc gia, gây khó khăn cho sản xuất và tiêu dùng, dẫn đến mất việc làm, giảm đầu tư và rơi vào vòng xoáy suy thoái kinh tế; giá xăng dầu, lương thực, thép, phân bón thế giới có dấu hiệu hạ nhiệt, nhưng khó dự báo; thiếu hụt, gián đoạn nguồn cung khiến chi phí sản xuất, vận tải toàn cầu gia tăng, qua đó tạo áp lực lên lạm phát, giá cả hàng hóa trong nước.

Để hạn chế tác động lạm phát, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt kiến nghị các cơ quan quản lý kiên trì thực hiện các biện pháp ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát. Đồng thời, chọn lọc chính sách hỗ trợ các nhóm sản xuất hoặc người lao động gặp khó khăn do giá cả nguyên liệu đầu vào tăng cao.

“Đặc biệt chú trọng rà soát và thực hiện kịp thời các chính sách hỗ trợ cho các nhóm sản xuất và dịch vụ có tính đặc thù cao, phụ thuộc vào giá nguyên phụ liệu đầu vào hoặc chi phí logistics”, ông Việt nhấn mạnh.

Ngoài ra, các cơ quan cũng cần hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân tiếp cận nguồn vốn và thị trường (cả cung và cầu – PV), cũng như tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, từng bước triển khai các nhóm giải pháp về chính sách, gồm cả chính sách về tài khoá và tiền tệ bị trì hoãn thời gian qua để tiếp tục hỗ trợ việc phục hồi kinh tế và phục hồi sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

“Nếu dự báo cuối năm tình hình lạm phát có thể được kiềm chế tốt thì nên cân nhắc một số động thái nới lỏng hỗ trợ tăng trưởng như nới room tín dụng và đặc biệt triển khai gói hỗ trợ 2% lãi suất theo đúng nghị quyết của Chính phủ”, ông Việt kiến nghị.

Vân Phong

Để lại bình luận
Hot Auto Trade Bot Phương Thức Thanh Toán
BROKERS ĐƯỢC CẤP PHÉP
net_home_top Ai VIF
29-09-2022 05:35:52 (UTC+7)

EUR/USD

0.9724

-0.0010 (-0.10%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

EUR/USD

0.9724

-0.0010 (-0.10%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

GBP/USD

1.0867

-0.0021 (-0.19%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (4)

Sell (8)

Indicators:

Buy (0)

Sell (7)

USD/JPY

144.21

+0.04 (+0.03%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (7)

Sell (1)

AUD/USD

0.6514

-0.0008 (-0.12%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (2)

Sell (10)

Indicators:

Buy (1)

Sell (6)

USD/CAD

1.3617

+0.0012 (+0.09%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (10)

Sell (1)

EUR/JPY

140.23

-0.10 (-0.07%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (4)

Sell (8)

Indicators:

Buy (0)

Sell (7)

EUR/CHF

0.9496

-0.0004 (-0.05%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (6)

Sell (6)

Indicators:

Buy (4)

Sell (1)

Gold Futures

1,666.65

-2.05 (-0.12%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

Silver Futures

18.875

-0.035 (-0.19%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (2)

Sell (8)

Copper Futures

3.3807

-0.0008 (-0.02%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (1)

Sell (11)

Indicators:

Buy (1)

Sell (7)

Crude Oil WTI Futures

81.75

-0.10 (-0.12%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (1)

Sell (8)

Brent Oil Futures

87.98

+3.11 (+3.66%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (10)

Sell (2)

Indicators:

Buy (8)

Sell (0)

Natural Gas Futures

7.010

-0.017 (-0.24%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (2)

Sell (10)

Indicators:

Buy (0)

Sell (9)

US Coffee C Futures

227.80

+3.45 (+1.54%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (1)

Sell (11)

Indicators:

Buy (1)

Sell (7)

Euro Stoxx 50

3,335.30

+6.65 (+0.20%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (7)

Sell (5)

Indicators:

Buy (2)

Sell (5)

S&P 500

3,719.04

+71.75 (+1.97%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (3)

Sell (9)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

DAX

12,183.28

+43.60 (+0.36%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (1)

Sell (4)

FTSE 100

7,005.39

+20.80 (+0.30%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (11)

Sell (1)

Indicators:

Buy (0)

Sell (6)

Hang Seng

17,250.88

-609.43 (-3.41%)

Summary

Buy

Moving Avg:

Buy (8)

Sell (4)

Indicators:

Buy (5)

Sell (2)

US Small Cap 2000

1,725.13

+62.62 (+3.77%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (4)

Sell (3)

IBEX 35

7,442.20

-3.50 (-0.05%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (4)

Sell (5)

BASF SE NA O.N.

39.415

-0.080 (-0.20%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (10)

Sell (0)

Bayer AG NA

48.19

-0.07 (-0.13%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (8)

Sell (4)

Indicators:

Buy (4)

Sell (4)

Allianz SE VNA O.N.

160.72

-3.02 (-1.84%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (9)

Sell (0)

Adidas AG

130.24

+2.94 (+2.31%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (10)

Sell (1)

Deutsche Lufthansa AG

5.772

-0.024 (-0.41%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (8)

Sell (0)

Siemens AG Class N

99.46

+1.54 (+1.57%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (10)

Sell (0)

Deutsche Bank AG

7.854

-0.274 (-3.37%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (3)

Sell (9)

Indicators:

Buy (0)

Sell (7)

    EUR/USD 0.9724 ↑ Sell  
    GBP/USD 1.0867 ↑ Sell  
    USD/JPY 144.21 ↑ Buy  
    AUD/USD 0.6514 ↑ Sell  
    USD/CAD 1.3617 ↑ Buy  
    EUR/JPY 140.23 ↑ Sell  
    EUR/CHF 0.9496 Neutral  
    Gold 1,666.65 ↑ Sell  
    Silver 18.875 ↑ Sell  
    Copper 3.3807 ↑ Sell  
    Crude Oil WTI 81.75 ↑ Sell  
    Brent Oil 87.98 ↑ Buy  
    Natural Gas 7.010 ↑ Sell  
    US Coffee C 227.80 ↑ Sell  
    Euro Stoxx 50 3,335.30 Neutral  
    S&P 500 3,719.04 ↑ Sell  
    DAX 12,183.28 Neutral  
    FTSE 100 7,005.39 Neutral  
    Hang Seng 17,250.88 Buy  
    Small Cap 2000 1,725.13 ↑ Buy  
    IBEX 35 7,442.20 Neutral  
    BASF 39.415 ↑ Buy  
    Bayer 48.19 Neutral  
    Allianz 160.72 ↑ Buy  
    Adidas 130.24 ↑ Buy  
    Lufthansa 5.772 ↑ Buy  
    Siemens AG 99.46 ↑ Buy  
    Deutsche Bank AG 7.854 ↑ Sell  
Mua/Bán 1 chỉ SJC
# So hôm qua # Chênh TG
SJC Eximbank6,410/ 6,510
(0/ 0) # 1,818
SJC HCM6,420/ 6,520
(0/ 0) # 1,831
SJC Hanoi6,420/ 6,522
(0/ 0) # 1,833
SJC Danang6,420/ 6,522
(0/ 0) # 1,833
SJC Nhatrang6,420/ 6,522
(0/ 0) # 1,833
SJC Cantho6,420/ 6,522
(0/ 0) # 1,833
Cập nhật 29-09-2022 05:35:54
Xem lịch sử giá vàng SJC: nhấn đây!
ↀ Giá vàng thế giới
$1,658.78 +29.67 1.82%
Live 24 hour Gold Chart
ʘ Giá bán lẻ xăng dầu
Sản phẩm Vùng 1 Vùng 2
RON 95-V23.26023.720
RON 95-III22.58023.030
E5 RON 92-II21.78022.210
DO 0.05S22.53022.980
DO 0,001S-V24.51025.000
Dầu hỏa 2-K22.44022.880
ↂ Giá dầu thô thế giới
WTI $80.94 -1.35 -1.67%
Brent $88.24 -1.29 -1.46%
$ Tỷ giá Vietcombank
Ngoại tệMua vàoBán ra
USD23.580,0023.890,00
EUR22.159,1623.399,49
GBP24.732,3625.786,46
JPY159,76169,13
KRW14,2317,34
Cập nhật lúc 17:55:10 28/09/2022
Xem bảng tỷ giá hối đoái
Phương Thức Thanh Toán